Thứ Tư, 5 tháng 12, 2012

Quốc gia khởi nghiệp Israel: Chương 9-10-11

Bạn thiếu khách hàng?  Giải pháp hiệu quả đây (link)

Chương 9: Sự thẩm định của Warren Buffett
Phần III: Những khởi đầu
 “Chúng ta không muốn đánh cắp người tài của Microsoft, nhưng nếu họ cảm thấy hài lòng hơn khi làm việc cho chúng ta thì chúng ta chào đón tất cả họ.” – Cô Yoelle Maarek thuộc Trung tâm R&D của công ty Google đặt tại Haifa, Israel đã phát biểu như vậy. Đó là thời điểm 10 tuần sau khi hỏa tiễn của Hezbolla rơi như mưa xuống thành phố Haifa, năm 2006.
Yoella đã có bài phát biểu này khi cô đến Tel Aviv và trình bày dự án cải tiến các chức năng mới cho công cụ tìm kiếm Google.  Tình hình chiến sự không làm cô và đội ngũ của cô mất tinh thần và xao nhãng công việc khoa học. Yoella sinh ra và lớn lên tại Pháp, cô là Tiến sĩ trong ngành máy tính, tốt nghiệp đại học Columbia và sau đó quay về Israel làm việc cho Google Israel, sau khi từng làm việc cho hãng IBM.
Yoella cùng với nhóm nghiên cứu Israel của cô đã từng thành công vang dội trong việc xây dựng một ứng dụng mới của Google: đó là chức năng Đề xuất trong khi tìm kiếm trên mạng. Mỗi khi người sử dụng internet gõ một ký tự vào khung tìm kiếm, dữ liệu sẽ được gửi về server trung tâm để Google phản hồi lại ngay các đề xuất có liên quan đến tìm kiếm đó, trong thời gian chưa đầy 1 giây đồng hồ. (Ví dụ: trên Google, khi gõ vào chữ Saig thì server sẽ đề xuất ngay Saigon – ND.)
Cũng trong thời điểm 2006 đó, Bill Gates – ông chủ Microsoft giàu có nhất thế giới lần đầu tiên ghé thăm Israel. Bill tuyên bố chắc nịch với báo giới Israel: “Microsoft chúng tôi không e ngại Google, mặc dù 2 tên tuổi đang cạnh tranh khốc liệt với nhau và tôi biết rằng các cải tiến mới nhất cho ứng dụng Internet trong tương lai hầu hết đều phát xuất từ Israel.”
Chẳng bao lâu sau khi tỷ phú số 1 thế giới từ giã Israel thì người giàu thứ 2 – Warren Buffet đến quốc gia nhỏ bé này. Nhà đầu tư giỏi nhất nước Mỹ đến Jerusalem và nói “Israel là quốc gia đã khiến tôi thay đổi hoàn toàn chính sách đầu tư của mình: nhiều thập niên trước kia, nguyên tắc của tôi là không bao giờ đầu tư vào các doanh nghiệp bên ngoài nước Mỹ, cho đến khi tôi nhìn ra các cơ hội tại Israel. Tôi biết đất nước này vẫn thường xuyên năm trong vùng chiến sự, nghĩa là chứa đựng nhiều rủi ro. Nhưng vấn đề của nhà đầu tư là: nhìn nhận rủi ro đó như thế nào.” Thực tế cho thấy, giai đoạn 2000 – 2005 trị giá vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI của Israel tăng lên gấp 3 lần, bất chấp số lượng các vụ tấn công bằng rocket vào lãnh thổ quốc gia này cũng tăng không kém. Lý do: các nhà đầu tư nước ngoài, trong đó có cả Warren Buffet đều tin tưởng rằng các doanh nghiệp nhỏ, mới thành lập của Israel vẫn nắm bắt được mọi cơ hội kinh tế, bất chấp rủi ro chiến tranh và bạo loạn. Các doanh nhân Israel tách bạch được rõ ràng đâu là việc kinh doanh, đâu là nguy cơ súng đạn. Quan điểm của Buffet đối với công ty Iscar (một doanh nghiệp nhỏ của Israel mà ông đã đầu tư rất nhiều vốn) là: mặc dù phòng Nghiên cứu Phát triển của Iscar nằm trong tầm bắn của tên lửa Iraq, Lebanon và du kích Hezbolla, nó có thể bị tàn phá bất cứ lúc nào nhưng giá trị của nó không nằm trong cơ sở vật chất.
Giá trị của Iscar nằm trong các bộ não của những thành viên và ban quản lý đầy tài năng của công ty, vậy nên đạn pháo và tên lửa không phải là mối đe dọa quá lớn đối với giá trị này.  Khi đạn pháo, đạn rocket và tên lửa bắn vào khu vực công ty Iscar, các nhân viên cùng gia đình họ tạm thời di tản, tìm nơi ẩn nấp an toàn để sau đó quay lại làm việc bình thường. Công ty không để lỡ một đơn hàng nào, đối với các khách hàng trên toàn thế giới thì tại Iscar không hề có chiến sự.
Iscar chỉ là một điển hình cho tập hợp các doanh nghiệp Israel, cộng đồng doanh nghiệp của đất nước này đã làm thay đổi quan điểm của nhiều nhà đầu tư quốc tế. Các doanh nghiệp Israel với lối hành xử như trên đã tạo dựng cho mình khối tài sản “không thể bị xâm hại” – họ hoạt động bình thường, chịu đựng bền bỉ trước sức ép quân sự ngay khi khu vực có chiến tranh, và tinh thần này đã làm say mê bao nhiêu tên tuổi lớn hàng đầu thế giới: Warren Buffet, công ty Google, Microsoft …
Có nhiều tấm gương về tính gan góc, bền bỉ chịu đựng trong điều kiện bom đạn của doanh nhân Israel, trong đó cần nhắc đến Dov Frohman – hiện vẫn đang làm việc cho Intel Israel. Anh ra đời tại Hà Lan, trong giai đoạn Đức Quốc xã chiếm đóng, và quay về tổ quốc khi 10 tuổi. Sau khi tốt nghiệp Học viện Kỹ thuật Israel, Dov quyết định “phải sang Mỹ để học hỏi và mang về tổ quốc những kiến thức kỹ thuật chuyên sâu.” Hoàn tất chương trình học tại Đại học California, Dov Frohman quay về Israel và là một trong những thành viên đầu tiên của Intel tại quê nhà.
Năm 1973, Intel khi đó thiếu hụt các kỹ sư một cách trầm trọng, chính anh đã tìm về cho Intel Israel năm nhân tài kỹ thuật nữa, củng cố cho đội ngũ R&D tại đây. Đó cũng là lúc trung tâm R&D của Intel tại Israel trở nên lớn mạnh, hơn hẳn các trung tâm khác nằm ngoài lãnh thổ Hoa Kỳ. Thành quả của Intel Israel là bộ vi xử lý Pentium dùng cho máy tính cá nhân IBM. Sản phẩm này giúp Intel thoát khỏi vỏng xoáy suy thoái trong thập niên 1990, như đã đề cập trong Chương 1. Đáp lại, Intel văn phòng chính đã chọn Israel làm nơi xây dựng nhà máy sản xuất và phát triển thêm về con chip này, bất chấp điều kiện chiến tranh dai dẳng. Dov Frohman được trung tâm chính của Intel cho phép làm bất cứ việc gì mà anh thấy là cần thiết cho công việc.
Sang năm 1991, cuộc chiến Vùng Vịnh bùng nổ, Iraq xâm lược Kuwait. Saddam Hussein tuyên bố: nếu Hoa Kỳ phản ứng lại cuộc chiến của ông ta, ông sẽ phóng tên lửa sang lãnh thổ Israel để trả đũa. Saddam khoe có vũ khí hóa học rất nguy hiểm. Tên lửa Scud của Iraq cũng đủ sức bay đến Tel Aviv chỉ dưới 10 phút. Mặt nạ phòng hơi độc được trang bị cho toàn dân Israel. Trong tình hình này, Frohman nhận định: nếu đóng cửa hoạt động của Intel Israel thì cũng đồng nghĩa với các tổn thất trong kinh doanh, IBM sẽ quay lưng với sản phẩm Intel và doanh thu của hãng sẽ giảm sút khoảng 70%.
Cũng như nhiều nhà quản lý doanh nghiệp Israel khác, Frohman đã cho các nhân viên của mình tổ chức xây dựng phương án trong điều kiện có chiến tranh: cách sử dụng mặt nạ phòng hơi độc, các gian phòng an toàn để trú ẩn, lương thực và vũ khí tự vệ …. Anh dự tính sẽ có nhiều nhân viên kỹ thuật của mình phải ra mặt trận, công ty Intel Israel sẽ có thể phải đóng cửa trong nhiều tuần. Cần lưu ý rằng đã có nhiều doanh nghiệp nhỏ của Israel bị phá sản chỉ vì gián đoạn hoạt động do chiến sự. Chính phủ Israel đã khuyến cáo các công dân nước ngoài trở về nước của họ, còn công dân Israel nên ở trong nhà.
Ngày 17-1-1991 Frohman, bất chấp khuyến cáo của chính phủ Israel, đã thông báo đến các nhân viên của anh rằng: Intel Israel vẫn làm việc bình thường ngay khi đất nước đang có chiến tranh. Tuy nhiên điều kiện đi làm là tùy ý của các nhân viên, ai không muốn đi làm cũng không bị phạt. Sang ngày 18, anh ngạc nhiên khi thấy 75% nhân viên của mình vẫn có mặt tại công ty. Nhiều người đem con nhỏ đến văn phòng làm việc. Các đơn hàng của khách hàng không bị chậm dù chỉ một ngày.
Tinh thần doanh nhân của người Israel là như vậy: kẻ thù càng tấn công tới tấp, thì người Israel càng thắng lợi giòn giã hơn. Người Israel có tính “bất chấp”, thể hiện còn rõ hơn trong cuộc chiến tranh với Lebanon năm 2006, theo đó các doanh nhân chia sẻ với Warren Buffett : “Chúng tôi xác định cách thắng trong trận chiến này là: dù bom pháo vẫn rơi xung quanh cơ quan nhà máy, xí nghiệp thì chúng tôi vẫn giữ nguyên công suất hoạt động.”
Niềm tự hào dân tộc, tính kiên quyết của doanh nhân Israel đã góp phần củng cố niềm tin cho các nhà đầu tư nước ngoài: một khi dân Do Thái đã cam kết thì họ làm cho bằng được. Bất chấp mọi điều kiện bên ngoài, dù có khắc nghiệt đến đâu đi nữa. Cảm ơn các điển hình như Dov Frohman.

Chương 10: Chương trình Yozma
Phần III: Những khởi đầu
Ngày nay thì việc doanh nghiệp lớn mua lại các doanh nghiệp nhỏ, mới được thành lập là khá phổ biến; nhưng vào năm 1995 thì chẳng mấy ai nghe chuyện: một doanh nghiệp châu Âu mua lại/đầu tư vào một doanh nghiệp Israel. Để thúc đẩy và tạo thuận lợi cho quá trình mua bán sáp nhập này, chính phủ Israel đã cho triển khai một chương trình có tên là Yozma.
Một doanh nghiệp nhỏ của Israel tên là Ornet Data Communication thuộc sở hữu của cô Berry, một Tiến sĩ khoa học máy tính được thành lập năm 1992. Berry xây dựng doanh nghiệp nhỏ của mình lúc đầu chỉ với mục tiêu: phát triển hệ thống mạng LAN, với tốc độ truyền tải dữ liệu Internat gấp đôi so với tốc độ trung bình thời bấy giờ, khi người sử dụng vẫn đang kết nối theo chuẩn “quay số” qua đường dây điện thoại cố định. Giải pháp mạng LAN của Berry còn dự tính cải thiện băng thông, lên hơn 50 lần. Văn phòng chính của Ornet đặt tại Karmiel, một địa phương ở miền bắc Israel. Cô Berry nhiều lần sang Hoa Kỳ để tăng vốn, nhưng cô thất vọng nhận ra: chẳng ai ở đây quan tâm đến việc đầu tư mạo hiểm cho công ty hoạt động trong lĩnh vực công nghệ cao của mình. Nhiều nhà đầu tư còn nghĩ rằng: bỏ vốn vào Israel thật là việc làm khó hiểu: đất nước này có dính líu nhiều đến các tôn giáo xa xưa, tình hình lại bất ổn. Ai kêu gọi đầu tư vào Israel cũng chỉ nhận được tiếng chê cười của các nhà tư bản Mỹ. Đừng nói gì đến các doanh nghiệp châu Âu, họ chẳng bao giờ quan tâm đến Israel.
Các doanh nhân Israel phải tư duy một cách toàn cầu: làm sao để sản xuất được một sản phẩm đáp ứng được nhu cầu của những thị trường cách xa mình hàng ngàn dặm? Làm sao để điều chỉnh sản phẩm cho phù hợp với thị hiếu vùng miền? Làm sao để giao hàng khi khoảng cách địa lý quá lớn? Làm sao để xâm nhập thị trường? Marketing như thế nào? …. Quá nhiều vấn đề lớn mà mang tính then chốt đối với nền kinh tế.
Trước khi có hình thức đầu tư mạo hiểm (venture capital, như đã trình bày ở các chương đầu: đó là hoạt động đầu tư vốn vào các doanh nghiệp hoạt động trong ngành công nghệ cao, cho nên khả năng bị thua lỗ toàn bộ tiền đầu tư là rất hơn, tuy nhiên nếu doanh nghiệp thành công thì tỷ suất lợi nhuận cũng cực kỳ cao), trong thập niên 1980 tại Israel đã có 2 phương pháp tài trợ khác: các doanh nghiệp nhỏ, mới thành lập của Israel có thể nộp đơn lên Văn phòng Khoa học nhà nước để được tài trợ một khoản tiền vừa đủ với nhu cầu trước mắt, do đó hầu hết chẳng giúp ích được gì và các doanh nghiệp liên doanh giữa Israel và Hoa Kỳ có thể xin tài trợ vốn từ Quỹ Nghiên cứu và Phát triển Công nghệ Hai nước (BIRD). Quỹ này do chính phủ 2 quốc gia Israel và Hoa Kỳ thành lập nên, thường trợ vốn cho các doanh nghiệp nhỏ số tiền từ 500,000 đến 1 triệu dollar, trong 2-3 năm và thu hồi lại khoản vốn này tùy theo tốc độ thành công  của các dự án mà doanh nghiệp thực hiện.
Quỹ BIRD này hoạt động khá tích cực, họ tìm gặp các doanh nghiệp Hoa Kỳ và giới thiệu “có một quốc gia trên thế giới tên là Israel, các bạn có thể đã nghe hoặc chưa nghe đến. Nhưng chúng tôi sẽ giúp các bạn tiếp xúc và làm việc với những kỹ sư rất thông minh, sáng tạo và có kiến thức nền tảng vững chắc ở đó. Không chỉ có vậy, chúng tôi còn tham gia đầu tư một nửa số tiền cho các dự án mà các bạn có thể triển khai cùng với đội ngũ người lao động Israel này.” Mặt khác, Quỹ BIRD còn đào tạo cho các doanh nghiệp Israel cách thức để làm kinh doanh tại thị trường Hoa Kỳ. Trong khuôn khổ tài chính tương đối hạn chế, BIRD đã cung cấp cho các doanh nhân Israel một con đường tắt để xâm nhập vào thị trường Hoa Kỳ. Ngay cả khi một liên doanh Hoa Kỳ – Israel bị thất bại, thì người ta vẫn rút ra được các bài học hữu ích để biết cần thiết kế sản phẩm, phát triển công nghệ theo hướng nào thì sẽ tốt hơn. Tính đến năm 1992, BIRD đã hỗ trợ để 60% doanh nghiệp Israel được tham gia niêm yết trên Sàn giao dịch Chứng khoán New York và 75% có tên tại NASDAQ.
Các nhà đầu tư Hoa Kỳ nói chung và những người tham gia hoạt động đầu tư mạo hiểm nói riêng đã bắt đầu chú ý đến Israel từ đó.
Đầu thập niên 1990 này cũng là giai đoạn mà nhà nước Israel phải đối mặt với một vấn đề nan giải: gần 1 triệu người Nga gốc Do Thái hồi hương về nước sau khi Liên bang Xô Viết sụp đổ. Vấn đề công ăn việc làm trở nên bức xúc hơn bao giờ hết. Ít nhất phải tạo ra hơn nửa triệu việc làm mới. Cứ 3 người Nga nhập cư thì có 1 người làm việc trong lĩnh vực khoa học công nghệ: kỹ sư, công nhân kỹ thuật, nhà nghiên cứu … vì thế chính phủ Israel nhận thấy rằng khối công nghệ cao là giải pháp tốt nhất. Nhưng nếu chỉ dựa vào các trung tâm nghiên cứu phát triển công nghệ hiện có thời bấy giờ thì cũng không đủ.
Chính phủ đã cho thành lập 24 tổ chức “ươm mầm công nghệ” – đó là nơi dành cho các nhà khoa học Nga mới nhập cư vào Israel có thể sử dụng các nguồn lực và nguồn tài chính để tiến hành các dự án cải tiến công nghệ. Mục tiêu đặt ra không chỉ dưới góc độ kỹ thuật, mà còn cả tính thương mại: sản phẩm hàng hóa có thể bán ra thị trường được hay không. Mỗi tổ chức như thế này nhận được ngân sách khoảng 300,000 dollar.
Tuy nhiên, thành công trong công tác R&D (hầu như toàn bộ 24 “vườn ươm công nghệ” này đều nghiên cứu một cách hiệu quả) không đồng nghĩa với sự phát triển của các tổ chức/công ty được tài trợ đó. Israel đã nhận thấy rằng: phải gắn liền ngành đầu tư tài chính mạo hiểm của đất nước với các thị trường tài chính nước ngoài thì mới đủ lượng vốn để phát triển các doanh nghiệp/tổ chức.
Chính phủ tiến hành chương trình Yozma nhằm mục đích này. Có thể kết luận rằng không có Chương trình Yozma thì Israel cũng không thể có ngành đầu tư tài chính mạo hiểm và ngành công nghệ cao. Ý tưởng ban đầu của nhà nước Israel là: hình thành nên 10 quỹ đầu tư mạo hiểm có tổng vốn là 100 triệu dollar, mỗi quỹ được đại diện bởi 3 nhân vật đến từ một công ty đầu tư hoặc ngân hàng của Israel; một nhà đầu tư mạo hiểm của Israel đang tập sự và một hãng đầu tư mạo hiểm của nước ngoài.
Ban đầu thực hiện chương trình, nếu một hoặc nhiều đối tác Israel có thể tăng vốn đầu tư cho một doanh nghiệp công nghệ cao của đất nước lên thêm 12 triệu dollar, thì chính phủ thông qua Yozma sẽ tham gia 8 triệu. Nhưng sự hấp dẫn thực sự đối với phía nhà đầu tư nước ngoài theo chương trình này là: Chính phủ sẽ chào bán, với giá cạnh tranh, số lượng 40% cổ phiếu vốn này sau 5 năm, nếu quỹ hoạt động thành công. Như vậy, chính phủ chia sẻ rủi ro trong thời gian triển khai dự án, nhưng sẵn sàng nhượng lại toàn bộ thành quả nếu thành công. Điều kiện này rất có lợi cho các nhà đầu tư nước ngoài.
Trước khi chương trình Yozma được tung ra, thì bản thân cộng đồng Do Thái có am hiểu về đầu tư cũng chưa hưởng ứng nhiều, họ không mấy quan tâm đến việc đưa vốn về Tổ quốc. Họ có thể tài trợ từ thiện không hoàn lại cho đất nước, thông qua các tổ chức phi lợi nhuận, nhưng họ chưa mặn mà để đầu tư. Nhưng với chương trình Yozma như một chất xúc tác, với các doanh nghiệp nội địa nhận được vốn đầu tư.
Ornet Data Communication của Tiến sĩ Berry là một trong những doanh nghiệp đầu tiên thụ hưởng. Không chỉ mua lại doanh nghiệp, dưới hình thức đầu tư, các chủ sở hữu mới còn chia sẻ thêm cho Berry các kiến thức về quản trị trong kinh doanh.
Từ 10 quỹ ban đầu với tổng vốn 100 triệu dollar năm 1992, đến năm 1997 thì số vốn tăng thêm cho các quỹ này là 200 triệu và hiện nay 10 quỹ này đang quản lý khoảng 3 tỷ dollar đầu tư , hỗ trợ hàng trăm doanh nghiệp Israel – tất cả đều là các doanh nghiệp mới thành lập. Có thể  nói hình thức đầu tư mạo hiểm đã đóng vai trò khơi nguồn cho sự phát triển của ngành công nghệ cao tại Israel. Chương trình này còn gây hiệu ứng sang giới đầu tư tại Mỹ, thu hút thêm khoảng 200 triệu dollar vốn mạo hiểm.
Hiệp hội Đầu tư Mạo hiểm Israel cho biết: “hiện trên lãnh thổ Israel có khoảng 45 quỹ đầu tư như thế này, và sau thành công của Yozma thì rất nhiều đại diện của các chính phủ Nhật, Hàn Quốc, Canada, Australia … tìm đến để được trao đổi khái niệm với những người đã sáng lập nên chương trình Yozma.”
Nhà kinh tế học người Ai len, ông McWilliams đã viết “ý tưởng then chốt trong chương trình này không phải là chỉ thu hút các nguồn vốn và bí quyết công nghệ của Hoa Kỳ, mà còn cả khu vực châu Âu.”
Yozma đã mang đến các điều kiện cần thiết để Israel tham gia vào giai đoạn bùng nổ công nghệ của thế giới trong thập niên 1990. Tuy nhiên sang năm 2000 thì chính ngành công nghệ cao lại hứng chịu nhiều đòn đánh hiểm ác cùng một lúc: bong bóng công nghệ toàn cầu vỡ tan (nghĩa là giá cổ phiếu của các công ty cổ phần trong ngành công nghệ cao sụt giảm đột ngột), làn sóng khủng bố tại Israel dâng cao và nền kinh tế đất nước này lại đi vào giai đoạn có chiều hướng suy thoái.
Nhưng các doanh nghiệp quy mô nhỏ và tuổi đời non trẻ của Israel đã nhanh chóng điều chỉnh cho phù hợp với tình hình chung của thế giới: trong giai đoạn này cộng đồng doanh nghiệp Israel tăng lượng vốn đầu tư mạo hiểm trên toàn cầu mà họ nắm giữ lên gấp đôi, tạo thuận lợi lớn cho các doanh nghiệp trong ngành công nghệ cao của Israel và thu hút thêm những nhà đầu tư nước ngoài, tuy nhiên không hỗ trợ các thành phần kinh tế khác theo mức độ tương đương.
Các nhà quản lý quỹ đầu tư mạo hiểm nhận được từ 5 đến 20% số tiền là thành quả đầu tư, ngoài mức phí quản lý thông dụng là 1-2%. Năm 2003, khi thủ tướng Ariel Sharon nhận nhiệm sở, Netanyahu cũng cắt giảm thuế, giảm phí chuyển tiền, giảm tiền lương công chức nhà nước và xóa sổ 4,000 việc làm trong hệ thống công quyền. Ông cũng tiến hành tư nhân hóa các lĩnh vực ngành nghề/doanh nghiệp từng là biểu tượng của đất nước: hãng hàng không quốc gia, công ty viễn thông quốc gia…
Vai trò quản lý điều hành cứng nhắc của Nhà nước trước kia nay đã được điều chỉnh, cách mạng kinh tế thực sự cho Israel phát xuất từ thay đổi tư duy của những nhà lãnh đạo đất nước.
Chính phủ còn phát hành trái phiếu, lãi suất 6% hàng năm, và các quỹ hưu trí/quỹ bảo hiểm nhân thọ của Israel chỉ đơn giản là đi mua trái phiếu chính phủ, chẳng cần suy nghĩ đem tiền đi đầu tư vào hoạt động nào khác. Đây được coi là một thành tựu trong công cuộc cải cách tài chính của Netanyahu. Công ty KPCS ngay sau đó cũng được ra đời – đây là một doanh nghiệp quản lý tài sản và tài chính của Israel với đầy đủ các dịch vụ liên quan, có văn phòng tại New York và Tel Aviv.
Như vậy, một thanh niên trẻ tuổi Israel sau khi rời quân ngũ sẽ được đào tạo nhiều kỹ năng cần thiết, nếu anh ta/cô ta muốn tham gia ngành công nghệ cao ở trong nước mình thì đây không phải là điều quá khó khăn. Có nhiều doanh nghiệp nhỏ, vừa được thành lập trên toàn quốc đang chờ đón những thanh niên này. Và sau cải cách ngành tài chính thì các bạn trẻ muốn làm công việc tương tự như tại Wall Street cũng có thể được đáp ứng, ngay tại Israel chứ không cần ra nước ngoài.

Phần IV: Động cơ của Đất nước
Chương 11: Sự phản bội và cơ hội
Cha đẻ của ngành công nghệ cao của Israel là phong trào tẩy chay Do Thái của Ả Rập và sự phản bội của Charles de Gaulle, bởi vì chính 2 yếu tố này đã bắt buộc Israel phải phát triển được một ngành nghề nhất định. – Yossi Vardi
Trong suốt quyển sách này, chúng tôi đã trình bày những cách thức theo đó thứ văn hóa “tùy cơ ứng biến, không theo công thức” và không quan tâm đến thứ bậc cao thấp trong Quân lực Israel đã dịch chuyển vào, tác động đến các doanh nghiệp nhỏ mới thành lập và hình thành nên nền kinh tế Israel. Văn hóa “ứng biến nhanh, phi công thức – cứng đầu, táo bạo” này khi kết hợp với tài năng xuất chúng trong các môn kỹ thuật  của người Israel đã cho ra đời một hỗn hợp “mạnh mẽ độc nhất vô nhị”.
Nhưng thông tin mà giới truyền thông hiếm khi có, liên quan đến lịch sử ra đời của ngành công nghiệp quốc phòng Israel, là: sự hình thành các phức hợp quân sự bắt nguồn từ một sự phản bội đầy kịch tính, chỉ sau 1 đêm của một đồng mình thân thiết. Hãy tìm hiểu chuyện này như thế nào.
Phương pháp tiếp cận vấn đề  này là thông qua cú sốc của Hoa Kỳ sau Thế chiến II: vị thế của nước Mỹ đã bị dao động mạnh khi đối thủ của họ lúc bấy giờ là Liên Xô đã phóng thành công tàu vũ trụ Sputnik 1 vào không gian năm 1957. Sau khi “sốc”, người Mỹ đã thức tỉnh và đáp trả. Họ điều chỉnh lại chương trình giáo dục đào tạo trong nước, tập trung vào Toán và các môn khoa học. Kinh phí cho giáo dục đào tạo được tăng thêm 900 triệu dollar, theo Đạo luật Giáo dục Quốc phòng (ngày nay thì kinh phí này lên đến 6 tỷ).
NASA và chương trình Apollo được thiết lập để chạy đua với Liên Xô, và Lầu Năm Góc còn cho thiết lập một cơ quan đặc trách về việc Nghiên cứu Phát triển (R&D) trong cộng đồng dân sự.  Sau đó hơn 10 năm Neil Amstrong đặt chân lên Mặt Trăng. Không chỉ chạy đua vào không gian, sự kiện này còn ảnh hưởng đến nền kinh tế Mỹ thông qua các ngành: điện tử ứng dụng trong hàng không vũ trụ, viễn thông và Internet … tất cả tạo thành một di sản nhằm đáp trả lại Sputnik 1 của Liên Xô.
Israel cũng đã trải qua những thời khắc tương tự như Hoa Kỳ khi biết tin Sputnik 1 như trên: đó là thời điểm ngay trước khi cuộc chiến 6 ngày, năm 1967 bùng nổ và Charles De Gaulle đã dạy cho người Israel một bài học về cái giá của độc lập.
De Gaulle, người cha đẻ của Đệ Ngũ Cộng hòa tại Pháp, từng phục vụ trong quân đội và sau Thế chiến ông ta là tổng thống Pháp (giai đoạn từ 1959 đến 1969). Sau khi Israel tuyên bố độc lập, de Gaulle đã vờ kết thành liên minh và làm mọi thứ để các nhà lãnh đạo Israel tin rằng nước Pháp là người bạn thân thiết. Pháp đã cung cấp nhiều trang thiết bị quân sự cho Israel, luôn có các máy bay chiến đấu và còn ký kết với Israel một hiệp ước bí mật để nghiên cứu vũ khí hạt nhân.
Là quốc gia nhỏ, Israel rất quan tâm đến việc mua lại nhiều hệ thống vũ khí lớn, thay vì tự phát triển các nguồn lực để tự sản xuất. Nhưng đến tháng 5/1950, Hoa Kỳ, Anh và Pháp cùng nhất trí ban hành Tuyên bố Ba Bên, hạn chế khối lượng vũ khí bán cho khu vực Trung Đông.
Thiếu nguồn cung từ nước ngoài, Israel phải bắt đầu tự trang bị, bằng các nhà máy bí mật sản xuất súng đạn. Có nhà máy bao gồm tòan các trang thiết bị được mang về từ Hoa Kỳ theo cách “bất hợp pháp” (tức là đi lậu, không chính thức) để sản xuất súng máy. Đến năm 1955, Liên Xô phớt lờ Tuyên bố Ba bên nói trên, ngang nhiên bán vũ khí cho Ai Cập, tổng giá trị lên đến 250 triệu dollar. Pháp, để trả đũa lại Liên Xô, lập tức bán vũ khí cho Israel, đổi lại quân đội Israel gìn giữ lối vào kênh đào Suez cho Pháp (khi đó Ai Cập đã quốc hữu hóa kênh đào này từ 1956).
Trong vòng 10 năm sau đó, liên minh Pháp – Israel thông qua các thương vụ mua bán vũ khí vẫn tốt đẹp và thân thiết. Pháp hứa hẹn cung cấp xe tăng, máy bay chiến đấu số lượng lớn, chất lượng cao. Bất ngờ, ngày 2-6-1967 nghĩa là 3 ngày trước khi Israel tiến hành tấn công Ai Cập và Syria, de Gaulle tuyên bố với nội các của ông “chấm dứt quan hệ và không cung cấp vũ khí cho Israel.” Ông muốn tháo ngòi nổ của cuộc chiến Trung đông và hơn thế nữa, tình hình mới buộc Pháp phải chọn lựa các đồng minh mới: cuộc chiến với thất bại cay đắng tại những quốc gia bắc Phi đã khiến Pháp muốn tìm sang thế giới Ả Rập.
Họ đã rút lui khỏi Algeria cũng trong năm 1967 và “chính sách của de Gaulle là nước Pháp không có bạn hữu, chỉ có lợi ích.”
Người kế nhiệm de Gaulle trong năm 1969 là Georges Pompidou, ông này cũng theo đúng chính sách nói trên của de Gaulle. Các xe tăng AMX và máy bay phản lực Mirage không được chuyển giao sang Israel nữa, mặc dù Israel đã thanh toán tiền, mà lại chuyển sang các quốc gia kẻ thù của Israel: Syria và Lybia. Chưa đủ, Pháp bất ngờ tuyên bố cấm vận Israel.
Vậy là Israel phải có động thái gấp rút: lại phải dùng “chiêu buôn lậu vũ khí” như trước khi nhà nước ra đời. Cha đẻ ngành Không quân Israel, tướng Al Schwimmer với tư cách cá nhân đã liên hệ được với một kỹ sư Thụy Sĩ để người này giúp ông thiết kế nên máy bay chiến đấu giống chiếc Mirage. Các tàu chiến được di chuyển “lậu” từ Pháp về Israel. Hoa Kỳ cũng muốn thay chân Pháp để trở thành nhà cung cấp vũ khí cho Israel.
Nhưng bài học sau khi Pháp phản bội đã khiến chính phủ Israel không còn muốn lệ thuộc vào nước ngoài để có vũ khí, nhà nước quyết định phải tự sản xuất được xe tăng và máy bay chiến đấu – điều mà không phải quốc gia nhỏ nào cũng thành công. Thành tựu lớn nhất trong công nghệ vũ khí của Israel là chiếc máy bay chiến đấu Lavi, với động cơ của Hoa Kỳ. Bên cạnh đó là các loại xe tăng Merkava, máy bay Nesher (thế hệ sau của Mirage).
Những thành tựu quân sự quốc phòng này có ý nghĩa to lớn vượt xa hơn cả khía cạnh kỹ thuật. Một là, chúng mang đến sự đột phá trong tâm lý của người Israel, họ đã có khả năng tự sản xuất chế tạo các vũ khí hiện đại, cho đất nước mình  và cho cả những đồng minh (máy bay Lavi được sử dụng trong chiến tranh Vùng Vịnh 1991, trong chiến dịch Bão táp Sa mạc khiến nhiều quân đội nước ngoài phải thán phục Israel). Thứ hai là, từ năm 1988, với các tiến bộ trong kỹ thuật quân sự, Israel cùng hơn 10 quốc gia khác đã tham gia phóng vệ tinh và không gian, với nền tảng cũng là những bí quyết khi sản xuất máy bay Lavi. Thứ ba, Israel xây dựng được một ngành hàng không hùng mạnh, làm nền  móng cho những cuộc bùng nổ công nghệ sau đó. Đáng tiếc là một dự án hợp tác nghiên cứu máy bay chiến đấu giữa Hoa Kỳ và Israel, ký kết từ năm 1982, lại buộc phải hủy bỏ trong năm 1986 vì Quốc hội Mỹ phản đối và sau đó chính nội các Israel cũng phản đối.
Về sau rất nhiều người đã phàn nàn rằng 2 nước đã bỏ lỡ một cơ hội tốt. Yossi Gross, một trong các kỹ sư nghiên cứu sản xuất máy bay Lavi, cho biết: anh tìm đến một ý tưởng là chỉ cần sao chép lại mô hình chiếc F-16 của Hoa Kỳ, đã là đủ dùng rồi, chứ không cần cải tiến gì thêm.
Vậy là sau khi bị nước Pháp của de Gaulle phản bội, Israel đã thúc đẩy công tác Nghiên cứu Phát triển trong kỹ thuật quân sự lên một tầm cao mới, các kỹ sư Israel sẵn lòng thử nghiệm mọi thứ có thể để tìm ra các giải pháp tốt nhất. Và nguyên tắc làm việc của họ vẫn không khác gì khi làm kinh tế: kết hợp kiến thức của nhiều bộ môn khoa học, xã hội chứ không hoàn toàn dựa trên một thứ đơn lẻ nào. Cảm ơn ông Charles de Gaulle, và sự đối kháng của thế giới Ả Rập.
***


----------------------------------------------------------------------------------------------
Bạn thiếu khách hàng?  Giải pháp hiệu quả đây (link)